Bài 1 – Học thuyết âm dương trong tử vi và phong thủy khoa học

Học thuyết âm dương trong tử vi và phong thủy khoa học.

“…Việc sử dụng phạm trù âm dương đánh dấu bước phát triển đầu tiên của tư duy khoa học phương Đông nhằm đưa con người thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng của các khái niệm thượng đế, quỷ thần truyền thống. Chính vì thế, sự tìm hiểu học thuyết âm dương ngũ hành là một việc cần thiết để lý giải những đặc trưng của triết học phương Đông….”

Lý luận về âm dương được viết thành văn lần đầu tiên xuất hiện trong sách “Quốc ngữ”. Tài liệu này mô tả âm dương đại biểu cho hai dạng vật chất tồn tại phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi và một dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược… Hai thế lực âm và dương tác động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ trụ. Sách “Quốc ngữ” nói rằng “khí của trời đất thì không sai thứ tự, nếu mà sai thứ tự thì dân sẽ loạn, dương mà bị đè bên dưới không lên được, âm mà bị bức bách không bốc lên được thì có động đất”.

Lão Tử (khoảng thế kỷ V – VI trước CN) cũng đề cập đến khái niệm âm dương. Ông nói: “Trong vạn vật, không có vật nào mà không cõng âm và bồng dương”, ông không những chỉ tìm hiểu quy luật biến hoá âm dương của trời đất mà còn muốn khẳng định trong mỗi sự vật đều chứa đựng thuộc tính mâu thuẫn, đó là âm dương.

3-2

Học thuyết âm dương được thể hiện sâu sắc nhất trong “Kinh Dịch”. Tương truyền, Phục Hy (2852 trước CN) nhìn thấy bức đồ bình trên lưng con long mã trên sông Hoàng Hà mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền (–) tức “vạch lẻ” để làm phù hiệu cho khí dương và một nét đứt (–) là vạch chẵn để làm phù hiệu cho khí âm. Hai vạch (–), (–) nó bao trùm mọi nguyên lý của vũ trụ, không vật gì không được tạo thành bởi âm dương, không vật gì không được chuyển hóa bởi âm dương biến đổi cho nhau. Quan niệm vũ trụ, vạn vật luôn vận động và biến hóa không ngừng, do sự giao cảm của âm dương mà ra, đồng thời coi âm dương là hai mặt đối lập với nhau nhưng cùng tồn tại trong một thể thống nhất trong mọi sự vật từ vi mô đến vĩ mô, từ một sự vật cụ thể đến toàn thể vũ trụ.

I. Định nghĩa

Mọi sự vật hiện tượng luôn luôn có mâu thuẫn nhưng thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hoá để phát sinh phát triển, tiêu vong được gọi là học thuyết âm dương.

bi-ging-m-dng-ng-hnh-4-638

II. Các quy luật căn bản trong học thuyết âm dương

1. Âm dương đối lập

Đối lập là sự mâu thuẫn, chế ngự và đấu tranh giữa hai mặt của âm dương.
VD: Ngày và đêm, nước và lửa, hứng phấn và ức chế

2. Âm dương hỗ căn 

Hỗ căn là sự nương tựa lẫn nhau (để phát triển). Hai mặt âm và dương tuy đối lập nhưng phải nương tựa vào nhau mới tồn tại được, mới có ý nghĩa. Cả hai mặt đều là tích cực của một sự vật, không thể đơn độc phát sinh, phát triển.
VD: Có sinh thì có tử hoặc có trong thì có ngoài. Có đồng hoá thì mới có dị hoá, không có đồng hoá thì dị hoá cũng không thực hiện được, có số âm mới có số dương, hứng phấn và ức chế đều là quá trình tích cực của hoạt động vỏ não.

3. Âm dương tiêu trưởng:

Tiêu là sự mất đi, trưởng là sự phát triển. Quy luật này nói nên sự vận động không ngừng sự chuyển hoá lẫn nhau giữa âm và dương.
VD: Như khí hậu 4 mùa trong năm luôn thay đổi từ lạnh sang nóng, từ nóng sang lạnh. Từ lạnh sang nóng là quá trình “âm tiêu dương trưởng” và từ nóng sang lạnh là quá trình “dương tiêu âm trưởng” do đó có khí hậu mát, lạnh, ấm, và nóng biểu thị khí hậu của 4 mùa: xuân – hạ – thu – đông.
Quy luật này có các trạng thái của vận động sau:– Âm tiêu dương trưởng (lạnh giảm và nóng tăng)– Dương tiêu âm trưởng (nóng giảm và lạnh tăng)– Dương cực sinh âm và âm cực sinh dương; hàn cực sinh nhiệt và nhiệt cực sinh hàn
VD: trong quá trình phát triển của bệnh tật
Bệnh thuộc phần dương (sốt cao) có khi gây ảnh hưởng đến phần âm (mất nước), hoặc bệnh tại phần âm (mất nước, điện giải, mất máu) ảnh hưởng phần dương ( gây trụy mạch, hạ huyết áp, choáng gọi thoát dương).

3782-chuong-2-thuyet-am-duong-2 3782-chuong-2-thuyet-am-duong-3

4. Âm dương bình hành

Hai mặt âm dương tuy đối lập, vận động không ngừng nhưng luôn luôn lập lại được thế thăng bằng, quân bình giữa hai mặt. Bình hành là cân bằng cùng tồn tại, sự cân bằng âm dương là sự cân bằng động và cân bằng tĩnh. Nếu sự cân bằng âm dương bị phá vỡ thì sự vật có nguy cơ bị tiêu vong. Thăng bằng của hai mặt âm dương nói nên mâu thuẫn thống nhất, vận động và nương tựa lẫn nhau của vật chất.

hoc thuyet am duong binh art

* Âm dương trong tự nhiên

Âm: Đất, Mặt trăng, Nước, Dưới, Trong, Lạnh, Số âm

Dương: Trời, Mặt trời, Lửa, Trên, Ngoài, Nóng, Số dương

* Âm dương trong cấu tạo cơ thể

Âm: Tạng, Kinh âm, Huyết, Bụng, Hư, Ức chế

Dương: Phủ, Kinh d¬ương, Khí, Lưng, Thực, Hưng phấn

Trong quá trình phát triển của bệnh, tích chất của bệnh còn chuyển hóa lẫn nhau giữa 2 mặt âm dương. Như bệnh ở phần dương ảnh hưởng tới phần âm, như sốt cao kéo dài sẽ gây mất nước, bệnh ở phần âm ảnh hưởng tới phần dương như ỉa lỏng, nôn mửakéo dài làm mất nước điện giải, nhiễm độc thần kinh gây sốt, co giật…

5. Biểu tượng của học thuyết âm dương

– Một hình tròn to: Vật thể thống nhất.

– Bên trong có 2 phần đen và trắng ( âm và dương đối lập).

– Trong phần trắng có 1 vòng đen, trong phần đen có 1 vòng trắng (trong dương có âm, trong âm có dương).

– Diện tích 2 phần đen trắng bằng nhau được phân đôi bằng một đường sin (âm dương cân bằng trong sự tiêu tưởng).

con ca am duong - binh art

6. Ứng dụng học thuyết âm dương vào y học:

* Từ 4 quy luật trên của học thuyết âm dương, trong y học khi vận dụng người ta thấy được một số phạm trù sau (3 phạm trù):

a. Sự tương đối và tuyệt đối của hai mặt âm dương

Sự đối lập giữa hai mặt âm dương là tuyệt đối, nhưng trong một điều kiện cụ thể nào đó có tính chất tương đối.

VD Tuyệt đối : hàn thuộc âm đối lập nhiệt thuộc dương,
Tương đối: lương thuộc âm đối lập ôn thuộc dương
Trên lâm sàng: sốt là nhiệt thuộc dương nhưng nếu sốt cao thuộc lý dùng thuốc hàn, nếu sốt nhẹ thuộc biểu dùng thuốc mát (lương)

b. Trong âm có dương, trong dương có âm

Âm và dương có quan hệ hỗ căn, nương tựa vào nhau cùng tồn tại, có khi xen kẽ vào nhau trong sự phát triển.

VD sự phân chia thời gian trong ngày (24h): ban ngay thuộc dương, nhưng từ 6 – 12 h trưa là phân dương trong dương, từ 12 – 18h là phần âm trong dương; ban đêm thuộc âm, nhưng từ 18 – 24h là phần âm trong âm, từ 0 – 6h là phần dương trong âm.
Trên lâm sàng thấy khi cho thuốc làm ra mồ hôi để hạ sốt thì tránh cho ra mồ hôi nhiều vì gấy mất nước và điện giải
Triệu chứng bệnh thì có triệu chứng của hàn và của nhiệt, hư và thực cùng xuất hiện
Về cấu trúc cơ thể thì tạng thuộc âm – phủ thuộc dương, nhưng trong tạng và phủ lại có cả âm và dương, như tạng can có can âm và can dương….

aa

c. Bản chất và hiện tượng

Thông thường thì bản chất phải phù hợp với hiện tượng, khi chữa bệnh người ta chữa vào bản chất của bệnh: bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn.

Nhưng có khi bản chất và hiện tượng không phù hợp với nhau, hiện tượng này gọi là sự “thật giả hay chân giả”, trên lâm sàng khi chẩn đoán bệnh cần phải xác định cho đúng bản chất để dùng thuốc chữa đùng nguyên nhân bệnh.
VD: Bệnh truyền nhiễm gây triệu chứng sốt cao (chân nhiệt), nhưng do tình trạng nhiễm độc biến chứng gây trụy mạch ngoại biên làm cho chân tay lạnh, vã mồ hôi lạnh giả hàn), trường hợp này phải dùng thuốc mát để điều trị.
Bệnh ỉa chảy do lạnh (chân hàn), gây mát nước nhiều và mất điện giải gây nên tình trạng nhiễm độc thần kinh, xuất hiện các triệu chứng co giật, sốt (giả nhiệt), trường hợp này dùng thuốc ấm nóng để điều trị nguyên nhân bệnh.

Impact-Site-Verification: ca42d555-2ee4-4c07-b841-36b6bbb597f5

Để lại một bình luận

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.