Details

Dát vàng thư pháp chữ ĐỨC | Cách sơn son thiếp vàng chữ thư pháp | CHIẾT TỰ CHỮ ĐỨC

ĐẶT HÀNG CHỮ THƯ PHÁP TẠI: https://binhart.com HOẶC GỌI BÌNH ART 0971282116.
Dát vàng thư pháp chữ ĐỨC | Cách sơn son thiếp vàng chữ thư pháp | CHIẾT TỰ CHỮ ĐỨC
Chiết tự chữ: ĐỨC (Chiết: Bẻ gãy. Tự: chữ, ý nói chữ được phân tích ra) Chiết tự là phân tách một chữ Nho ra làm nhiều thành phần nhỏ, rồi thích nghĩa toàn phần. Ðây là điểm đặc biệt của chữ Nho là một Linh tự. Chữ Nho là chữ tượng hình).
Chữ ĐẠO (道) – Đường đi, hướng đi, lối làm việc, ăn ở.
Chữ ĐỨC (德) – Theo Khổng Tử, sống đúng luân thường là có Đức. Theo Đạo (Lão tử) tu thân tới mức hiệp nhất với trời đất, an hoà với mọi người là có Đức.
I. Nghĩa Nôm:
– ”Đức” là từ đi trước những danh xưng chức vị hay tước hiệu để tỏ lòng kính trọng dành cho những đấng, những vị đáng được tôn kính. Ví dụ: Đức Chúa Trời, Đức Mẹ, Đức Phật Thích Ca, Đức Thái Thượng Lão Quân, Đức vua, Đức thánh Trần…
– “Đức” chỉ kết hợp với các danh từ chỉ người hay danh từ trừu tượng và không bao giờ kết hợp với danh từ chỉ vật hay đồ vật.

BÀN VỀ CHỮ: ĐỨC

Chiết tự chữ: ĐỨC  (Chiết: Bẻ gãy. Tự: chữ, ý nói chữ được phân tích ra) Chiết tự là phân tách một chữ Nho ra làm nhiều thành phần nhỏ, rồi thích nghĩa toàn phần. Ðây là điểm đặc biệt của chữ Nho là một Linh tự. Chữ Nho là chữ tượng hình).

Chữ ĐẠO (道) – Đường đi, hướng đi, lối làm việc, ăn ở.

Chữ ĐỨC (德) – Theo Khổng Tử, sống đúng luân thường là có Đức. Theo Đạo (Lão tử) tu thân tới mức hiệp nhất với trời đất, an hoà với mọi người là có Đức.

BS Đặng Văn Ngữ

Luân thường – trong nho giáo việt nam là gì?

Đó là tam cang và ngũ thường:
– Tam cang: là 3 giềng mối của xã hội thời phong kiến: đạo vua tôi (Quân Thần cang) làm tôi thì phải trung với vua, đạo cha con (Phụ tử cang) làm con thì phải hiếu với cha mẹ, đạo vợ chồng (phu phụ cang) làm vợ thì phải chung thủy với chồng.

– Ngũ thường: là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Tam cang ngũ thường là luân thường đạo lý của Khổng Giáo đã ảnh hưởng và tạo nên trật tự trong xã hội Việt Nam thời phong kiến .

 

BS Đặng Văn Ngữ

Ý nghĩa của chữ ĐỨC theo Hán – Nôm:

 

  1. Nghĩa Nôm:
    – ”Đức” là từ đi trước những danh xưng chức vị hay tước hiệu để tỏ lòng kính trọng dành cho những đấng, những vị đáng được tôn kính. Ví dụ: Đức Chúa Trời, Đức Mẹ, Đức Phật Thích Ca, Đức Thái Thượng Lão Quân, Đức vua, Đức thánh Trần…

– “Đức” chỉ kết hợp với các danh từ chỉ người hay danh từ trừu tượng và không bao giờ kết hợp với danh từ chỉ vật hay đồ vật.

  1. Nghĩa Hán:
  2. Nghĩa chung của chữ đức

Đức có duy nhất một chữ Hán 德 (tuy có nhiều cách viết, như: 徳, 悳, 惪).

Nguyên nghĩa:

– Nhìn rõ phương hướng, đi thẳng vào đạo lộ

– Hợp đạo trời, tự nhiên tự đắc (chỉ dùng trong cổ văn)

– Tư tưởng, phương pháp hợp đạo trời

– Phẩm chất tư tưởng phù hợp với tiêu chuẩn phải trái

– Việc thiện, ân huệ, Cảm ân đới đức.

 

Vậy, đức có các nghĩa:

(1) Ân huệ: Dĩ đức báo oán. (2) Đạo đức, lấy đạo để lập thân: Đức hạnh. (3) Hạnh kiểm, tác phong. (4) Cái khí tốt (thịnh vượng) trong bốn mùa: mùa xuân gọi là thịnh đức tại mộc. (5) Ý chí, niềm tin, lòng: nhất tâm nhất đức (một lòng một dạ). (6) Tên quốc gia: Nước Đức. (7) Ơn: Đức tin. (8) Họ Đức. (9) Tạ ơn. (10) Giáo dục: đức hoá (lấy đức mà dạy bảo). (11) Mỹ thiện: Đức chính (chính sách tốt đẹp).

 

  1. Các quan niệm xã hội về đức.

2.1. Nghĩa theo Lão Tử.

Đức trong tư tưởng luận của Lão Tử có một ý nghĩa đặc biệt:  “道生之,德畜之- Đạo sinh chi, đức súc chi”, nghĩa là vạn sự vạn vật đều do đạo sinh thành, đức nuôi dưỡng những sự vật đó từ siêu hình trở thành cụ thể.

“Đạo” bao hàm hai nghĩa: Một là căn nguyên tạo thành vạn vật, hai là quy luật phát triển vận hành của vạn vật. Khi đạo được cụ thể hoá trên vạn vật, thể hiện đến đời sống con người, gọi là “đức”. Nên đạo là bản thể của đức – đức là cụ thể hoá của đạo.

Lão Tử muốn con người trở về căn nguyên của đức. Quan hệ giữa đạo và đức rất mật thiết, không thể tách ra được. Bản tính của vạn vật do trời sinh thành, không ai can thiệp vào, những gì thể hiện ra là tính tự nhiên, Lão Tử gọi là đức. Nếu đạo là thứ nhất, thì đức là thứ hai. Đạo là trục trung tâm của vòng tròn, đức là chu vi của vòng tròn đó.

 

Lão Tử nói: “Vật đắc dĩ sinh chi vị đức”, nghĩa là: vật được sinh ra gọi là đức. Đức là cụ thể hoá của đạo, nên đức thể hiện trong vũ trụ, là sự chiếu sáng của nhật nguyệt, mưa móc thấm nhuần, sự thay đổi của bốn mùa, âm dương bổ túc nhau, tất cả đều do tác động của đức, nên vạn vật được sinh trưởng không ngừng cách hài hoà.

 

Lão Tử lại chia đức thành hai loại: thượng đức và hạ đức. Lão Tử nói: “Thượng đức bất đức, thị dĩ hữu đức. Hạ đức bất thất đức, thị dĩ vô đức. Thượng đức vô vi nhĩ bất vi, hạ đức vi chi nhĩ hữu bất vi”. Nghĩa là những người làm việc đức mà không nhằm mục đích gì, làm không phải vì đức, làm cách tự nhiên, không vì tư lợi, chỉ biết làm hết mình vì lợi ích cho tha nhân thì có đức. Ngược lại, có một số người, làm việc đức có chủ đích, nhắm đến cái gọi là “đức” vì bản thân mình, chứ không nhằm giúp ích tha nhân, nên là “vô đức”. Làm như thế thì nghịch với đạo, gọi là hạ đức.

 

2.2.  Nghĩa theo Khổng Tử.

Khổng Tử coi nhân (仁): lòng thương yêu, yêu người không vì lợi riêng mình là nguyên tắc đạo đức tối cao. Nhân cũng là “toàn đức” của mọi hoạt động con người. Điều quan trọng nhất của đời người là tri đức(biết đức), hiếu đức(yêu thích đức), hành đức (làm việc đức). Mục đích của con người là trở về với chính mình, hoàn thành “toàn đức”.
Trong sách “Luận Ngữ”, Khổng Tử chú trọng hoàn thành đức cho chính mình. Từ đó, Khổng Tử lại đề ra “bát đức”, gồm: hiếu, trung, đễ, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ.

–  Hiếu: là thảo kính cha mẹ, kính trọng người lớn. Khổng Tử nói: “Hiếu, đức chi thuỷ dã” (Hiếu thảo là khởi đầu của đức).

–  Trung: là tận tâm hoàn thành mệnh lệnh của bề trên, chân thành đối xử với bằng hữu. Trong Luận Ngữ có câu: “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” (Bát Dật Thiên), nghĩa là: Vua dùng lễ sai khiến, bề tôi trung thành làm việc cho vua).

– Đễ: Gồm ba nghĩa, một là cách đối xử với anh em, hai là cách sống vợ chồng, ba là tình bằng hữu.

– Tín: lời đã nói ra thì phải giữ và làm cho chu đáo, không lừa dối người khác. “Ngôn tất trung tín”.

– Lễ: là cách sống chung với người khác, mọi người phân biệt rõ địa vị của mình mà xử sự phải lẽ. “Phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt, trưởng ấu hữu tự, bằng hữu hữu tín”, nghĩa là: cha con phải thương nhau, vua tôi phải có nghĩa, vợ chồng biết kính trọng nhau, anh em có thứ tự, bạn bè có lòng tin.

– Nghĩa: đòi buộc tư tưởng, hành vi phải tuân thủ nguyên tắc đạo đức, phải suy nghĩ kỹ việc gì nên làm, việc gì không nên làm. Mạnh Tử nói: “Tu ác chi tâm, nghĩa chi đoan dã”, nghĩa là: biết xấu hổ về sự ác, là khởi đầu của nghĩa.

– Liêm: xua đuổi những gì không ngay thẳng mà theo những gì chính đáng. Người có liêm thì hành động tự nhiên đứng đắn, lương tâm dám nhìn nhận việc xấu mình làm.

– Sỉ: là lòng tự trọng. Khổng Tử nói: “Tri sỉ cận hồ dũng”, nghĩa là: biết xấu hổ thì gần với dũng cảm, là phẩm chất đạo đức cơ bản của con người. Nếu một người không biết xấu hổ thì sẽ mất nhân tính, việc gì cũng có thể làm, mất lý trí.
Tóm lại, Đức đối với khổng Tử rất quan trọng, Bát đức là tiêu chuẩn làm người, thiếu bát đức hay quên bát đức thì không còn là con người nữa. Ngoài ra, Khổng Tử cũng nói: “Vi chính dĩ đức”, nghĩa là: phải dùng đức để trị dân, gọi là đức trị.

 

GS Tôn Thất Tùng

TÀI & ĐỨC

Trong xã hội hiện nay, ta thấy thật khó kiếm được những người vừa có tài mà lại vừa có đức. Hầu hết thì những người có tài thì không có đức và ngược lại?.

 

Vậy “tài và đức” là gì?.

Tài là tài năng, năng lực, kỹ năng kỹ xảo của con người trong lao động.

Tài là kết quả của nhiều yếu tố: năng khiếu bẩm sinh, bản chất thiên phú, sự cần cù trong học tập, sự chăm chỉ rèn luyện trong lao động và cuộc sống. Tài biểu hiện trong lao động chân tay và lao động trí óc.

 

Đức là đạo đức, phẩm chất đạo đức, nhân cách của một con người.

Đức là kết quả của nhiều yếu tố: môi trường sinh sống, sự học tập trong gia đình, nhà trường xã hội, công phu trau dồi, tu dưỡng bản thân và được soi sáng bởi một lý tưởng. Đức biểu hiện trong suy nghĩ, lời nói, hành động của con người và trở thành một lẽ sống đẹp. Như vậy giữa ‘tài’ và “đức” có mối liên kết khắng khít với nhau.

 

Nhưng có tài mà không có đức là người không trọn vẹn. Họ có thể được nhiều người nể phục. Nhưng họ dễ trở nên kiêu căng, ngạo mạn, độc ác, dễ trở thành kẻ xấu xa, nguy hiểm cho gia đình, xã hội, con người (người con bất hiếu, học trò bất xứng, công dân phạm pháp). Họ còn chính là những mầm móng gây hại cho mọi người xung quanh và cả bạn bè, gia đình thân thiết với họ

Có đức mà không có tài cũng là người không trọn vẹn. Người có đức thường được mọi người kính trọng. Nhưng có đức mà không có tài thường khó thực hiện được chức trách, khó hoàn thành được nhiệm vụ được giao và khó có kết quả cao trong công việc.

 

Đức và tài có quan hệ gắn bó nhau. Đức là nền tảng giúp cho tài bay cao vững chắc. Thiếu đức, tài sẽ giống như quả bóng không được sợi dây níu giữ lại: quả bóng càng bay cao càng dễ vỡ, quả bóng mang độc tố càng bay cao càng nguy hiểm. Đức giúp tài được nâng cao giá trị của sự tài ba. Có tài, tấm gương sáng của đức lại càng thêm tỏa sáng.

 

Trước đây, ông cha ta quan niệm tài và đức là duyên và hồng. Hồ chủ tịch cũng từng nói : có tài mà không có đức thì vô dụng; có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Người có đức có tài là người cao quý, là hiền tài, luôn được mọi người yêu quý và kính trọng, và cũng là vốn quý của quốc gia.

 

Về nhận thức: ta thấy được mối quan hệ gắn bó khắng khít giữa tài và đức. Ngày nay, tài là kỹ năng nghề nghiệp, óc sáng tạo, đức là phẩm chất của người Việt Nam yêu nước, yêu người, phấn đấu cho lý tưởng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, ấm no, hạnh phúc. Về tình cảm: tình cảm làm cơ sở cho sự rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng cho đức và tài là tình cảm chân thật yêu nước, yêu người.

 

 

Nói tóm lại, giữa “tài” và”đức’ như hai anh em với nhau .Nếu ta có quyết tâm phấn đấu, rèn luyện bản thân trở thành người thật sự có tài, có đức để góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn hội nhập như hiện nay

 
Binh Art – Đỗ Huy Bình chia sẻ những kiến thức, kỹ năng về nghệ thuật như hội họa, đồ họa, nhiếp ảnh, thư pháp…với các chủ để sau: # Binh Art; # Tử Vi Phong Thủy; # Tự học tử vi phong thủy; # Tự học mỹ thuật; # Tự học thư pháp; #Tự học hán nôm; # thư pháp hán; # thư pháp Việt; # Tử vi; # phong Thủy; # mỹ thuật; # hội họa; # phù điêu; # Sân vườn; # non Bộ…

Những Video này đều được chia sẻ trên web: binhart.com.
_
★ Binh Art Trân trọng cảm ơn quý vị đã theo dõi Video- Xin vui lòng Subscribe/ Đăng ký để đón nhận những Video chia sẻ từ Binh art mới nhất.
+ Đăng ký kênh: https://goo.gl/csCnG8
★ Web: http://binhart.com
★ Fb: https://www.facebook.com/HuyBinhArt
Video có thể có sử dụng nội dung chứa bản quyền dựa trên luật sử dụng hợp lý Fair Use (https://www.youtube.com/yt/copyright/)
Mọi vấn đề vi phạm chính sách, nguyên tắc cộng đồng, luật bản quyền xin liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua email: thuthuocmmo@gmail.com
★ Binh Art – Do Huy Binh trân trọng cảm ơn quý vị khán giả.

Xin được giới thiệu với các bạn một bộ môn nghệ thuật đang phát triển bên Việt Nam, đó là môn Thư pháp.

Ở Việt Nam thuở xưa, vào mỗi dịp Xuân về, người dân hay đến nhà những « Thầy Ðồ » hay những người « hay chữ » để xin chữ về treo như một bức tranh, vừa là món đồ trang trí nhưng cũng vừa là món ăn tinh thần. Thầy đồ hay người hay chữ cho chữ bằng cách viết một hay nhiều chữ trên một tờ giấy lớn, với nội dung mang tính cách chúc tụng hay giáo dục, nét chữ thường được khen là đẹp như rồng bay phượng múa. Lối viết như vậy được gọi là Thư Pháp. Thư Pháp là phương pháp viết chữ (đẹp).

Cụ Ðồ xưa:
Thư pháp là một môn nghệ thuật phát xuất từ Trung Hoa và đã được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam âm thầm chấp nhận và lặng lẽ duy trì.

Ðối với phương Tây, thư pháp được thực hiện bằng nhiều phương tiện : bút sắt, cọ, thước, compa, êke…Con chữ được nắn nót theo chuẩn mực và tỷ lệ. Ðó là cái đẹp của các con chữ theo thị giác người sử dụng hệ chữ La Tinh.

Ðối với người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt… Với cây bút lông, mực và giấy người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với lý thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.

Ở Việt-Nam vào thời điểm nầy, có lẽ ngoại trừ một số người lớn tuổi thâm Nho mới đọc được chữ Hán, chữ Nôm, chớ còn hầu hết là không đọc được.

Bởi vậy tại sao ta không viết thư pháp bằng tiếng Việt ? Viết chữ Việt cũng đẹp vậy, bởi vì sao giải thích được : « Sao là đẹp ? Sao là không đẹp ? » (KTS Nguyễn Thanh Sơn)

« Biết đâu cái gọi là đẹp đối với ta, chắc gì gọi là đẹp đối với kẻ khác !… biết đâu cái gọi là đẹp đối với ta bây giờ chắc gì gọi là đẹp đối với ta sau nầy” (Trang Tử).

Thư pháp bằng tiếng Việt:

Theo các bậc khoa giáp thời xưa, việc chọn một câu văn một bài thơ để viết lên trang giấy là việc cần hết sức cẩn trọng. Vì ngoài việc thể hiện nét bút tài hoa, năng khiếu viết chữ, nội dung một bức thư pháp còn cho thấy tư tưởng, kiến thức, tâm hồn của người viết. Khi cầm bút, ngoài thể hiện những đường nét rồng bay phượng múa, các thư pháp gia còn phải “nhiếp tâm” với những gì mình sắp sửa viết ra.

Phong trào viết Thư pháp bằng tiếng Việt đã được khôi phục một cách mạnh mẽ từ khoãng 10 năm nay. Bên Việt Nam nhiều Câu Lạc Bộ viết Thư pháp được thành lập trong các thành phố lớn, đã có nhiều “Thư pháp gia” tổ chức những cuộc triển lãm thư pháp như những hoạ sĩ triển lãm tranh vẽ. Tôi xin giới thiệu với bạn sơ lược về bộ môn nầy.

Mới nhìn qua, chúng ta có thể nghĩ là bộ môn nầy khá dễ, muốn viết sao cũng được, miễn cho đẹp thì thôi ! Thật ra môn Thư pháp cũng có nhiều qui tắc, sau đây là vài nguyên tắc chánh.
Chương pháp: tức là nguyên cứu phương pháp phân bố chữ với chữ, hàng với hàng, và các hàng với toàn bộ bức thư pháp. Một bức thư pháp thành công hay không là do ở chương pháp.

-Ðầu câu không thụt vô.
-Các hàng đều và dài bằng nhau
-Một chữ lẻ loi không đứng thành một hàng
-Khoảng trống ở hàng cuối không dài hơn phân nửa chiều dài của hàng
-Không dùng dấu chấm câu.
Hình dạng bức thư pháp: Có bốn hình dạng chánh

-Hình chữ nhật đứng (Trung đường)
-Hình chữ nhật ngang (Hoành phi)
-Hình vuông (Ðấu phương)
-Hình mặt quạt (Phiến diện) (coi hình dưới đâÿ)
Ấn chương (hay con dấu, con triện) là một nét văn hoá rất độc đáo của người Trung Quốc.

Ấn chương là một yếu tố quan trọng của một bức thư pháp hay một bức họa. Ðặt đúng vị trí, ấn chương tăng thêm gía trị của tác phẩm, ngược lại sẽ làm hỏng nó. Nghiên cứu kỷ ấn chương, người ta có thể giám định một bức thư họa là chính bản hay ngụy tạo.

Nguyên tắc khắc ấn triện là khắc chìm hoặc khắc nổi :

-Khắc chìm khi in ra có nét chữ trắng trên nền đậm.
-Khắc nổi, khi in ra có nét chữ đậm trên nền lợt.
-Loại nữa chìm nữa nổi
Vị trí đặt con dấu:

Trong các thư tác của người Trung Hoa xưa có nhiều vị trí được qui ước để đóng dấu như :

-Ðóng ở bên phải, phía trên thư tác gọi là Nhân chương
-Ðóng ở thắc lưng thư tác gọi là Yêu chương
-Ðóng ở phía dưới, bên trái thư tác gọi là Danh chương
Tùy theo thư tác có khổ lớn hay nhỏ, dài hay ngắn mà có thể đóng một, hai, hoặc ba dấu triện. Vị trí các dấu triện đều có ý nghĩa riêng của nó.

Thư pháp Việt ngữ không hoàn toàn theo qui ước đóng dấu của người Trung Hoa mà theo cách thực hành sau đây :

Khi tác giả vừa là tác giả nội dung (Ý) vừa là tác giả hình thức (Hình) ; hoặc tác giả Hình nhưng Ý là các câu văn thơ cổ (hết bản quyền) thì con dấu ở vị trí dưới, phải. Hoặc có thể thêm một dấu ở trên, trái như dấu treo. Như vậy được gọi là Toàn triện.

 

Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn, thơ…) nhưng chưa có sự đồng ý của tác giả đó thì con dấu của tác giả Hình đặt bên dưới, phải, còn bên trái ghi tên tác giả Ý và người viết phải ghi « thủ bút » hoặc « viết ». Vị trí nầy tạm gọi là Bán triện

 

Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn, thơ…) có sự đồng ý của tác giả Ý thì được quyền đóng dấu ở dưới, bên phải nhưng phải đề tên tác giả Ý phía trên cao, bên trái ; và người viết phải ghi chữ « thủ bút » hoặc « viết ». Vị trí nầy tạm gọi là Ðồng triện.
Trường hợp ngoại lệ : vì lý do bố cục mà người viết không thể sắp xếp được vị trí nơi đóng dấu thì được đặt dấu ở vị trí khác nhưng phải ghi rõ tác giả về Ý. Vị trí nầy tạm gọi là Ngoại triện.
Các kiểu chữ trong Thư pháp

Trong thư pháp việt ngữ hiện nay xuất hiện 5 kiểu chữ chánh:

Chữ Chân Phương, tạm gọi là Chân Tự, là cách viết rõ ràng dễ đọc, rất giống chữ thường.
Chữ Cách Diệu, tạm gọi là Biến Tự, là cách viết biến đổi từ chữ Chân Phương mà ra nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để tạo ra cái lối viết riêng của mình.
Chữ Cá Biệt, tạm gọi là Cuồng Thảo, là lối viết Thư Pháp mà người phóng bút « nhiếp tâm » giữa tư tưởng và quản bút. Lối viết chữ nầy thể hiện cá tính của người viết, nhìn vào kiểu chữ nầy, người xem dễ biết tác giả mà không cần phải xem bút ký. Kiểu chữ nầy thường viết liền lạc trong một nét nên khó đọc.
Chữ Mô Phỏng là lối viết mô phỏng dựa theo kiểu chữ của nước ngoài. Có người viết chữ Việt nhìn vào ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập, chữ Miên, v.v…

 
Chữ Mộc bản là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu. Nhìn vào chữ có dạng Hán-Nôm nhưng đó lại là chữ Việt viết ngược.

(Rất tiếc, hình quá mờ nên không đưa lên trang web được)
Ngoài ra trong một số tranh Thư Pháp còn có hình ảnh minh họa về thiên nhiên, trong đó phần tranh có thể chiếm khoãng không gian lớn hơn phần chữ. Với đặc trưng nầy Thư Pháp trở thành Thư Họa.

 

Trong một số người viết thư Pháp, có nhiều người là họa sĩ, họ thường biến chữ thành tranh, tranh là hình ảnh của chữ. Lối viết nầy rất khó. Thí dụ như :

Ta có thể hình dung ra được khuôn mặt của Ðức Phật

Sau đây là chữ “Phật” của Trần Bá Linh:

 

Chữ “Lệ rơi” của Tuấn Hạ :

Và cuối cùng là chữ “Mẹ” của Chính Văn:

Nếu ta nhìn kỷ thì có thể “thấy” hình dáng người mẹ tóc dài xõa lưng, đứng đưa lưng lại và dang tay ra để đở một đứa bé, đứa bé nầy nhìn ngang, nằm co lại như còn trong bụng mẹ.

Sách tham khảo và trích lục:

Sổ tay thư pháp của KTS Nguyễn Thanh Sơn. Nhà xuất bản Văn Nghệ TP HCM.

-Hồn chữ Việt, Về nghệ thuật thư pháp của Thiện Duyên, Câu Lạc Bộ Yêu Thích Thư Pháp Quận ? TP HCM.

-Hướng dẫn viết thư pháp của Phạm Thanh Hiệp. Câu Lạc Bộ Yêu Thích Thư Pháp Quận I, TP HCM.

Thư pháp nhập môn, tập I và II của Trung Tâm văn hóa quận 8, Câu Lạc Bộ Thư Pháp, Phạm Công Út biên soạn.

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.