Bài 1 NGUYÊN LÝ TOÁN NHỊ PHÂN TRONG DỰ BÁO THEO DỊCH CỔ

CHƯƠNG MỞ ĐẨU

NGUYÊN LÝ TOÁN NHỊ PHÂN TRONG DỰ BÁO THEO DỊCH CỔ

 

tam-nguyen-cu-van

Đây là những bài giảng giá trị nhất về Tam Nguyên Cửu vận, nó sẽ làm cho các bạn có kiến thức sâu sắc về nền tảng triết học Phương Đông và giá trị của Bộ môn Tử vi và phong thủy khoa học.

Trong cuổn “Kinh Dịch và Hệ Nhị Phân” do nhà Xuất Bán Văn Hóa – Thông Tin xuất bản năm 2002, chúng tối đã có dịp trình bày những nguyên lý toán Nhị phân- cơ sở của Dịch cổ – còn rất ít nhà nghiên cứu phát hiện và lý giải, nhiều người còn coi đó là cuốn sách “thần bí” và khó hiểu, nên các học giả chỉ đi vào khai thác khía cạnh triết học của Dịch, rất ít người đề
cập đến hệ toán Nhị phân (système binaire). Tuy nhiên hệ toán này đã được người xưa nghiên cứu rất kỹ ngay từ thời kỳ con người chưa tìm ra chữ viết. Hình thức chữ sô đầu tiên là dùng vạch đứt (—) và vạch liền (–) để ghi hai con số “0” và “1”. Hai ký hiệu đó cũng để chỉ hai loại số khác nhau là các số lẻ (cơ) bắt đầu từ 1 đến 3, 5, 7, 9… và các số chẵn (ngẫu) bắt đầu từ số 2 đến 4, 6, 8,10… Chính chúng là nguồn gốc của lý thuyết “âm dương” sau này và hai ký hiệu “vạch đứt và vạch liền” trở thành hai ký hiệu “âm dương” để chỉ sự phân cực cua Tạo Hóa ngay từ thuở ban đầu.

Để ký hiệu các con số cổ nhân chỉ dùng hai chiếc đũa, một chiếc để nguyên, một chiếc bẻ thành hai nửa bằng nhau và sắp xếp chúng theo những tập hợp từ hai hàng vạch, ba hàng vạch, bốn năm đến sáu hàng vạch để ghi các con số từ nhỏ đến lớn. Từ đó cổ nhân đã phát hiện ra nguyên lý của hệ toán “Nhị tiến” cùng phép ghi các con số của hệ này bằng hai ký hiệu “âm dương”. Ngưòi xưa đã nhận ra rằng trong “Tượng” của các số Nhị phân tàng chứa nhiều quy luật biến hóa không những của các con số mà cũng là những quy luật phố biến của mọi sự vật trong Vũ Trụ và của con người.

Vì vậy hệ toán nhị phân đã được sử dụng trong “Lịch toán” và nhiều môn dự báo cổ, không những đe dự báo khí hậu bôn mùa, dự báo những bệnh tật hay xảy ra theo mùa, mà còn dùng chúng để dự báo cả sự thăng trầm của thời cuộc và lý giải một phần những khó khăn về vận mệnh đời người.

Trong các xã hội nông nghiệp truyền thống Á Đông xưa, khoa học chưa phát triển, nên chưa thể có các khoa dự báo như ngày nay. Tuy nhiên dự báo về khí hậu, lụt lội hay nắng hạn, về sự thuận lợi hay thất bát của mùa màng, dự báo về thời tiết một cách đại cương kể cà vể nhật thực, nguyệt thực, sao chổi, thì đã được cổ nhân nghiên cứu rất sớm và đã có những tiên doán chính xác một; số dự đoán được ghi trong lịch cũ còn để lại đến ngày nay. Lịch toán cổ không những chỉ để do đạc thời gian về mặt “số lượng” dài ngắn đơn thuần để định ra mùa vụ, dự báo nắng mưa, hạn lụt, phục vụ nông nghiệp, mà cổ nhân còn tìm hiểu cả “chất lượng” từng thời gian gắn với bão lụt, hạn hán, dịch bệnh, hay mọi thiên tai, địch họa có tính chất chu kỳ đã gây ảnh hưởng đến cuộc sống cộng đồng và từng con người ra sao. Vì mỗi giai đoạn thời gian đều có chất lượng khác nhau theo từng chu kỳ tuần hoàn của khí hậu, nên người xưa quan niệm rằng, chất lượng thời gian trong thời điểm sinh ra của mỗi người cộng với huyết thống di truyền của bố mẹ, dòng họ, đã tạo nên tính cách riêng biệt của họ. Chính tính cách này đã trực tiếp góp phần tạo dựng vận mệnh của mỗi người sau này. Ngôn ngữ thông thường của người Việt cố đã mang dấu ấn sâu đậm của quan niệm này. Nó gắn liền hai từ “tính” và “mệnh” thành một danh từ kép “Tính Mệnh” để chỉ riêng vận số của từng cá nhân theo tính cách của họ. Các ngôn ngữ khác không thể hiện sự nhất quán đó. Trong cuộc sống thực tế, ta cũng nhận thấy có rất nhiều bi kịch của cá nhân chính là bi kịch của “tính cách” riêng của họ. Cái vượt ra khỏi tính cách mà con người không thể cưỡng lại được mới là cái “Số Mệnh”. Ngôn ngữ dân gian hình thành từ xa xưa, hai từ “Tính Mệnh” và “Số Mệnh” luôn luôn đi đôi với nhau. Thông qua sự quan sát lâu dài về cuộc đời của mỗi con người được sinh ra trong những khoảng thời gian khác nhau cùng với sự thịnh suy của thời cuộc- cũng có tính chất tuần hoàn theo từng chu kỳ dài ngắn – các học giả cổ đại đã nối tiếp nhau đời này qua đời khác nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng thời gian và số mệnh con người, hòng giải mã phần nào những bí ẩn của vận số nhân học, một vấn đề còn nằm trong phạm trù huyền bí của Tạo Hóa. Môn lịch toán “Tam Nguyên – Cửu Vận” chính là môn học nhằm giải đáp một phần vấn đề trên. Nó chứa đựng nhiều điều lý thú vì tính logic trong tư duy, làm chúng ta say mê, rất đáng để chúng ta nghiên cứu tìm hiểu. Đúng hay sai còn chờ ở phần thẩm định của mỗi người, nhưng tâm huyết của người xưa bỏ ra trong vấn đề này thật đáng trân trọng. Chúng ta là những thế hệ hậu sinh, chưa nghiên cứu kỹ đã bài bác là một sai lầm lớn.

Nền khoa học hiện đại- thành quả trí tuệ chung của con người- chỉ mới phát triển chừng vài trăm năm nay, nhưng thực sự phát triển mạnh mẽ chỉ mới từ nửa sau thế kỷ 20 đến nay (khoảng trên nửa thế kỷ) và chủ yếu là dựa trên nền tảng của “tư duy cơ lý” phương Tây. Ngay từ những năm cuốỉ thế kỷ trước, nhiều học giả đã phát hiện ra rằng, tư duy cơ lý có thê là động lực để phát triển kỹ thuật lên trình độ rất cao, kể cả những kỹ thuật du hành vũ trụ trong tương lai và tìm ra nhiều điều mới lạ của thế giới vật chất, nhưng điều chắc chắn là nó sẽ không bao giờ giải thích được những bí ẩn cuổì cùng của vật chất và nhất là những bí ẩn của cuộc sống và thế giới tâm linh. Bởi vì cơ lý chủ yếu nghiên cứu những đối tượng vật chất cụ thể, những đối tượng có thể nhìn thấy, sờ thấy hay nghe được; nhũng đối tượng mà năm giác quan cảm nhận được. Tuy nhiên thế giới vật chất phản ảnh qua năm giác quan không phải là tất cả sự thật. Nó chỉ là một mặt của sự tồn tại thông qua cảm nhận của năm giác quan con người. Nếu con người lại có thêm giác quan để cảm nhận được cả thế giới vật chất khách quan qua “siêu âm” thì chắc chắn thế giới đó sẽ có phần khác thực tại. Nếu lại có thêm

Nhiều giác quan để nhận thức được thế giới bằng cả “tia hồng ngoại”, tia “tử ngoại”.., thì thế giới khách quan càng khác thực tại nhiều hơn nữa. Vì vậy thế giới khách quan mà con người nhận thức được hiện nay chỉ mới là một phần hay “một mặt” của Vũ Trụ hiện hữu. Thế giới đó khác xa thế giới khách quan mà loài dơi nhận thức được qua “siêu âm”, cũng khác xa thế giới thực tại mà loài cú nhận thức được qua “hồng ngoại”…

Mãi đến cuổi thế kỷ 20 khoa Thiên Văn hiện đại mới phát hiện ra 9/10 vật chất trong Vũ Trụ bao la là vật chất không nhìn thấy! Chúng là những bóng tối dày đặc, những “lỗ đen” lớn nhỏ có thể nuốt trọn cả những vì sao không lồ hay những quần thể sao vào trong lòng nó, đến ánh sáng cũng không thể thoát ra được. Chúng chứa đầy vật chất chưa rõ bản chất là gì. Nghiên cứu những vấn đề này cần có một phương pháp tư duy khác thoát khỏi tư duy cơ lý và chủ nghĩa duy vật thô sơ đă trở thành thói quen của mọi xã hội công nghiệp và cả xã hội hậu công nghiệp hiện nay. Lối tư duy trừu tượng đó vốn đã có sẵn trong nền tảng của các học thuyết cổ Á Đông và đã bị phai mờ trước tư duy cơ lý đầy tính thực dụng. Hai cách tư duy đó phản ành sự “phân cực” không tránh khỏi, một quy luật tất yếu của Tạo Hóa, kể cả trong lĩnh vực tư tưởng của con người. Rồi đây, sẽ hết thời kỳ “Âm thịnh Dương suy”, sự tiến hóa sẽ theo chu trình ngược lại. Phương Đông vốn là Dương sẽ hưng thịnh và sự hài hòa sẽ được lập lại trước khi dẫn đến một thời kỳ mất cân bằng mới. Phương pháp tư duy theo Dịch cổ Á Đông và những phát hiện về thế giới Tâm linh mà Đức Phật Thích Ca đă nói đến từ trên ba ngàn nàm trước sẽ được nhiều người chú ý nghiên cứu trong thê kỷ 21 này. Tâm linh không phải là thế giới của thần thánh hay ma quỷ- vì chính Đức Phật cũng không tin có thần thánh hay ma quỷ- mà là thế giới “trí tuệ và tàm hồn” đặc trưng của con người. Nó là sản phẩm chỉ con người mới có, gắn với đòi sống con người. Chắc chắn nó sẽ là một trong những con đường dẫn đến những phát minh và thành công trong việc giải thích nhiều vấn đề về cuộc sổng mà hiện nay còn nằm trong phạm vi huyền bí.

Kho tàng trí thức cổ Á Đông về các khoa dự báo, trong đó có hai khu vực mà người xưa rất quan tâm, là dự báo về sự thăng trầm của thời cuộc và vận số con người, là rất lớn và đáng được chú ý. Mặc dầu gặp đầy khó khăn nhưng nhiều thế hệ học giả cổ đã nối tiếp nhau nghiên cứu về hai vấn đề trên và đã để lại trong kho tàng trí thức cổ những tư liệu đầy tính trí tuệ và tâm huyết, có sức lôi cuốn rất lớn đối với những ai muốn khai thác lại vấn đề này. Chúng tôi, tuy sức hiểu biết còn có hạn, cũng mạnh dạn góp phần sưu tầm phần nào những vấn đề mà cố nhân để lại, biên soạn dưới ánh sáng của hệ Nhị phân hiện đại, cố gắng giải thích những vấn đề “rối rắm cổ” theo ngôn ngữ ngày nay, để bạn đọc muốn tìm hiểu những lý thuyết cổ đỡ được phần nào khó khăn bưóc đầu. Tác giả hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé vào việc giữ gìn nền học vấn của người xưa. Chắc chắn cuốn sách còn nhiều thiếu sót, tác giả rất mong các bậc học giả uyên thâm bổ cứu và chỉ giáo(1).

THUẬT NGỮ CỔ
Khoa dự báo cổ chia thành nhiều bộ môn, bao gồm:
  • Dự báo thời tiết, khí hậu, nắng mưa, hạn lụt hàng năm rất cần cho nông nghiệp, bao gồm cả dự báo về Nhật thực, Nguyệt thực, Sao Chổi…
  • Dự báo ngày tốt, ngày xấu do tác động của thời tiết đốì với “Tâm sinh lý” con ngườ
Các môn dự báo trên được ghi đầy đủ trong các sách lịch hàng năm, được các triều vua thời xưa ban hành cho dân chúng biết để phục vụ nông nghiệp. Còn các môn dự báo sau đây, chỉ được nói đến trong các sách khảo cứu của các học giả chuyên sâu:
  • Dự báo thời cuộc từng giai đoạn ngắn dài; tốt hay xấu, bình hay loạn, thịnh hay suy;
  • Dự báo nhân sự, vận số đời người theo thời cuộc dựa vào giờ, ngày, tháng, năm sinh của họ v.v…
Các môn dự báo xưa, danh từ cổ gọi chung là “bói”. Các quẻ bói về thời tiết, đã được ghi trên các mảnh xương, yếm rùa bằng chữ “tượng hình” từ 3- 4000 năm trước, mà khoa khảo cổ đã phát hiện được rất nhiều ở Trung Quốc (trong những tỉnh thuộc địa bàn của cư dân Bách Việt cồ đại). “Bói” xưa chi là môn xác xuất thô sơ, tính chính xác kém, nên nó nhuốm mầu mê tín dị đoan. Khi đã bước vào kỷ nguyên “văn tự”, mọi môn dự báo cổ đều dựa trên nền tảng triết học của Dịch. Bói cổ được gọi là “Bói Dịch”. Tuy nhiên khoa “Bói Dịch” bằng Cỏ Thi và Mai Rùa xưa, được miêu tả trong Kinh Dịch (Ngô Tất Tố dịch) chỉ là một phần nhỏ trong khoa “Bói Dịch” nói chung. Vì vậy đế tìm hiểu chúng trước tiên ta cần thống nhất nhận định về thuật ngữ “bói”.
Từ kép “Bói Dịch” là dịch từ chữ Hán “Bốc Dịch”. Môn này còn gọi là “Bốc Phệ” là phương pháp dùng cỏ Thi và Mai Rùa để tìm quẻ Dịch và dự báo theo “Tượng quẻ” (xin xem mục Bói Dịch trong cuốn Kmh Dịch và Hệ Nhị Phân của Hoàng Tuấn- Nhà XB VH-TT-2002).
Khi chuyển sang tiếng Việt, người xưa gắn nó với phương pháp tính toán theo Dịch số nên từ “bói” gắn liền với từ “toán”, trở thành “bói toán”.
Nó không đơn thuần là mê tín dị đoan, mà là một phương pháp dùng toán số để dự báo tương lai.
Tuy nhiên trong tâm thức đại đa số người trong các thế hệ hiện đại, “bói toán” đồng nghĩa vái mê tín dị đoan, vì từ lâu đời nó đã bị một số người ít am hiểu Dịch lý lợi dụng lòng tin của quần chúng, đoán mò làm nghề kiếm sống, gieo rắc những điều mê tín nhảm nhí, vì vậy từ “bói” đã bị bôi đen, làm mất dần ý nghĩa đúng đắn ban đầu của nó. Môn bói cổ vổn chẳng có gì là xấu, nó đồng nghĩa với từ “dự báo” hiện đại. Bói là dự báo, nhưng nói dự báo thì mọi người tán thành còn nói “bói” thì mọi người phỉ báng, chê bai, chẳng qua là do thành kiến về “ngôn từ” mà thôi.
Về sau môn Bói Dịch là môn dự báo cổ dựa trên “Tượng” các số” viết theo cơ chê âm dương của Dịch kết hợp với sự định vị không gian các con số theo lý thuyết về hệ Toạ Độ không gian của người xưa (quen gọi là lý thuyết Âm Dương- Ngũ Hành), cùng những nguyên lý của hệ Nhị phân. Không phải ai cũng tinh thông Dịch lý để sử dụng thành thạo được những nguyên lý này. Vì vậy mà nó dễ trở thành đoán mò, phán bậy, nhuốm màu sắc mê tín, gieo rắc lòng tin mù quáng vào quỷ thần, gây hoang mang, làm ảnh hưởng xấu đến đời sống của xã hội. Tuy nhiên, nhiều môn dự báo cổ vốn dựa trên những nguyên lý vững chắc của Dịch học, có tư tưởng triết học rất thâm thúy vẫn tiếp tục sống trong trí tuệ của nhiều người. Suy cho cùng thì đó chính là những phép tính “xác xuất cổ”. Nhiều phép đã được người xưa vận dụng để tính trước thời tiết hàng trăm năm sau trong phương pháp làm “Lịch Âm Dương” còn tồn tại cho đến nay, mà kết quả cũng rất phù hợp với cách tính lịch theo khoa Thiên văn hiện đại. Còn những phương pháp áp dụng để tính sự thâng trầm của thời cuộc, hoặc của vận mệnh đời người thì quá phức tạp, không đễ gì nắm được, như phép tính “Độn Lục Nhâm”, “Độn Giáp”, phép “Thái Ât”, phép “Cửu Tinh toán thuật” v.v…Trong lịch sử cũng chỉ có rất ít người nắm được các môn học này như Gia Cát- Khổng Minh, Quỷ Cốc Tử, Trần Đoàn (Trung Quốc) hay Trạng Trình, Trạng Bùng, La Sơn Phu Tử (Việt Nam) mà thôi. Vì vậy tài liệu nhiều phần đã thất truyền, phần còn lại quá ít ỏi, nhiều khi còn bị giải sai hoặc cố tình xuyên tạc. Ớ Việt Nam thời xưa chưa có kỹ thuật in ấn, các sách cổ đều được chép tay, nên số lượng rất ít. Qua những lần bị các chế độ phong kiến phương Bắc xầm lược, những sách ít ỏi bản xứ đều bị thu hồi về chính quôc hoặc bị tiêu hủy. Quân xâm lược chỉ để lại những sách từ chính quốc truyền sang, mục đích không ngoài việc cố đồng hóa về mặt văn hóa. Vì vậy phần còn lại phải cất dấu trong vòng bí mật, dễ bị hủy hoại qua thời gian, do đó mà nhiều trước tác của các bậc tinh thông Dịch lý và phép dự báo cổ đã bị thất truyền.
Dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc phương Đông xưa kia, ngoài sự quan tâm đến thời tiết nắng mưa, ấm lạnh, hạn lụt để làm lịch phục vụ nông nghiệp, còn rất quan tâm đến sự thàng trầm của thời cuộc, sự thịnh suy của quốc gia, vì những điều đó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống từng cá thể, đến vận mệnh từng con người. Suy cho cùng thì chính vận mệnh đời người, nhữns may rủi khó lường trước của từng số phận cũng là mối quan tâm chính của con người ở mọi thời đại. Tiếp cận nó là một khó khăn lớn. Ngay đốì với mức hiểu biết của nhân loại đầu thế kỷ 21 này vẫn chưa thể tiếp cận nó một cách thật sáng sủa. Trước những khó khăn đó, nhiều người có xu hướng quy tất cả cho sự “may rủi”, cho “ngẫu nhiên và tất nhiên”. Tuy nhiên Tạo hóa vốn đã phú cho con người “tính tò mò” cố hữu, bao giờ cũng muốn đào sâu vào những bí mật của Tạo Hóa và cả của “Quỷ Thần” (nếu có). Đó cũng chính là điều cơ bản để phân biệt giữa người và vật, điều cơ bản làm động lực cho mọi sự tiến hóa về trí tuệ và tâm linh. Họ không muốn quy tất cả những điều bí hiểm của số phận con người vào “may rủi” hay yếu tô” “ngẫu nhiên”.

Để lại một bình luận

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.